Chuyển nhượng cổ phần có phải nộp thuế không?

Chuyển nhượng cổ phần có phải nộp thuế không

Hoạt động chuyển nhượng cổ phần hay có thể gọi là chuyển nhượng cổ phiếu trong Công ty cổ phần, công ty đại chúng là hoạt động diễn ra thường xuyên. Thông thường các công ty lớn đều có đội ngũ luật sư, pháp chế lo các thủ tục chuyển nhượng cổ phần. Tuy nhiên, cũng có những công ty không có những đội ngũ như vậy và họ phải tự nghiên cứu để thực hiện. Pháp luật Việt Nam chưa bao giờ là dễ nghiên cứu bởi chỉ riêng Hoạt động chuyển nhượng cổ phần cũng có cả tá Luật, Nghị định, Thông tư hướng dẫn. Bài viết này, Công ty TNHH tư vấn Vilaco xin được gửi đến Quý doanh nghiệp các nội dung Thủ tục chuyển nhượng cổ phần, Chuyển nhượng cổ phần có phải nộp thuế không để doanh nghiệp nắm được và thực hiện (Lưu ý: Nội dung bài viết chỉ đề cập tới Công ty cổ phần chưa niêm yết, không giao dịch trên sàn Chứng khoán).

1.Thủ tục chuyển nhượng cổ phần, chuyển nhượng chứng khoán

Điều 120 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định: ” Trong thời hạn 03 năm kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập được tự do chuyển nhượng cho cổ đông sáng lập khác và chỉ được chuyển nhượng cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông. Trường hợp này, cổ đông sáng lập dự định chuyển nhượng cổ phần phổ thông thì không có quyền biểu quyết về việc chuyển nhượng cổ phần đó”.

Bên cạnh đó, nghị định 108/2018/NĐ-CP cũng quy định “Việc thông báo thay đổi thông tin của cổ đông sáng lập với Phòng Đăng ký kinh doanh chỉ thực hiện trong trường hợp cổ đông sáng lập chưa thanh toán hoặc chỉ thanh toán một phần số cổ phần đã đăng ký mua” do đó không cần đăng ký thay đổi thông tin cổ đông sáng lập trong trường hợp chuyển nhượng cổ phần. Do đó, theo quy định này các cổ đông chỉ cần thực hiện các thủ tục chuyển nhượng nội bộ công ty, không cần thực hiện thủ tục thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp tại Phòng đăng ký kinh doanh- Sở Kế hoạch và Đầu tư.

Để thực hiện chuyển nhượng cổ phần, Doanh nghiệp tiến hành các thủ tục sau:

Thứ nhất, Tiến hành họp Đại hội đồng cổ đông và thông qua Nghị quyết chuyển nhượng cổ phần, cổ phiếu,

Thứ hai, Các bên nhận chuyển nhượng, chuyển nhượng tiến hành ký hợp đồng chuyển nhượng,

Thứ ba, người đại diện theo pháp luật xác nhận vào hợp đồng chuyển nhượng nói trên.

Toàn bộ giấy tờ trên phải được lưu tại Doanh nghiệp.

2.Chuyển nhượng cổ phần có phải nộp thuế không?

Tôi có thể khẳng định đây là câu hỏi mà rất  nhiều người băn khoăn ngay cả những người làm Luật hay Kế toán cũng chưa chắc nắm rõ chứ không nói đến các cổ đông chuyển nhượng.

Vậy để trả lời cho câu hỏi này, tôi khẳng định Chuyển nhượng cổ phần phải nộp thuế Thu nhập cá nhân và mức thuế là 0,1% trên giá trị hợp đồng.

Căn cứ khoản 2 Điều 11 Thông tư số 111/2013/TT-BTC quy định:

“Thu nhập tính thuế từ chuyển nhượng chứng khoán được xác định là giá chuyển nhượng chứng khoán từng lần.

a.1) Giá chuyển nhượng chứng khoán được xác định như sau:

a.1.1) Đối với chứng khoán của công ty đại chúng giao dịch trên Sở Giao dịch chứng khoán, giá chuyển nhượng chứng khoán là giá thực hiện tại Sở Giao dịch chứng khoán. Giá thực hiện là giá chứng khoán được xác định từ kết quả khớp lệnh hoặc giá hình thành từ các giao dịch thỏa thuận tại Sở Giao dịch chứng khoán.

a.1.2) Đối với chứng khoán không thuộc trường hợp nêu trên, giá chuyển nhượng là giá ghi trên hợp đồng chuyển nhượng hoặc giá thực tế chuyển nhượng hoặc giá theo sổ sách kế toán của đơn vị có chứng khoán chuyển nhượng tại thời điểm lập báo cáo tài chính gần nhất theo quy định của pháp luật về kế toán trước thời điểm chuyển nhượng”.

Về thuế suất đối với hoạt động chuyển nhượng cổ phần cũng được quy định như sau:

“Thuế suất và cách tính thuế:

Cá nhân chuyển nhượng chứng khoán nộp thuế theo thuế suất 0,1% trên giá chuyển nhượng chứng khoán từng lần.

Cách tính thuế:

Thuế thu nhập cá nhân phải nộp = Giá chuyển nhượng chứng khoán từng lần      x    Thuế suất 0,1%”

3.Tôi có thể chuyển nhượng cổ phần giá trị thấp hơn để tránh thuế được không?

Câu trả lời là có thể, tuy nhiên Căn cứ vào Thông tư 111 nói trên có quy định “Trường hợp hợp đồng chuyển nhượng không quy định giá mua hoặc giá mua trên hợp đồng không phù hợp với giá thị trường thì cơ quan thuế có quyền ấn định giá mua theo pháp luật về quản lý thuế”.

Như vậy, nếu bạn ghi trên hợp đồng mức giá thấp và không phù hợp với giá trị thị trường, thì cơ quan thuế hoàn toàn có quyền ấn định một mức giá để tính thuế thu nhập cá nhân với bạn.

Trên đây là toàn bộ lời tư vấn của chúng tôi, nếu có thắc mắc vui lòng gọi số hotline để được phục vụ. Trân trọng!