Phân tích một số khía cạnh về Án lệ số 05/2016/AL về vụ án tranh chấp di sản thừa kế

 

Khái quát nội dung của án lệ:
– Tình huống án lệ: Trong vụ án tranh chấp di sản thừa kế, có đương sự thuộc diện được hưởng một phần di sản thừa kế và có công sức đóng góp vào việc quản lý, tôn tạo di sản thừa kế nhưng không đồng ý việc chia thừa kế (vì cho rằng đã hết thời hiệu khởi kiện về thừa kế), không có yêu cầu cụ thể về việc xem xét công sức đóng góp của họ vào việc quản lý, tôn tạo di sản thừa kế
– Giải pháp pháp lý: Tòa án quyết định việc chia thừa kế cho các thừa kế thì phải xem xét về công sức đóng góp của họ vì yêu cầu không chia thừa kế đối với di sản thừa kế lớn hơn yêu cầu xem xét về công sức.
– Quy định của pháp luật liên quan đến án lệ: Khoản 1 Điều 5 và Điều 218 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004.

Nội dung án lệ: 

“Cụ Hưng chết năm 1978, theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 thì ông Trải được hưởng 1/7 kỷ phần thừa kế của cụ Hưng. Phần tài sản ông Trải được hưởng của cụ Hưng là tài sản chung của vợ chồng ông Trải, bà Tư. Bà Tư chết năm 1980, các thừa kế của bà Tư gồm ông Trải và 03 người con của ông Trải, bà Tư trong đó có chị Phượng. Tuy chị Phượng không phải thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ nhất của cụ Hưng, cụ Ngự, nhưng là cháu nội của hai cụ và có nhiều công sức quản lý, đã chi tiền sửa chữa nhà nhưng trong quá trình giải quyết vụ án, chị Phượng không yêu cầu xem xét công sức vì chị Phượng cho rằng vụ án đã hết thời hiệu chia thừa kế, không đồng ý trả nhà đất cho các thừa kế. Như vậy, yêu cầu của chị Phượng đề nghị xác định quyền lợi là lớn hơn yêu cầu xem xét về công sức, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm, phúc thẩm chưa xem xét công sức cho chị Phượng là giải quyết chưa triệt để yêu cầu của đương sự”

 Phân tích: 

* Án lệ số 05/2016/AL đưa ra tình huống là bị đơn phản đối yêu cầu khởi kiện chia thừa kế là do bị đơn cho rằng đã hết thời hiệu khởi kiện nên nguyên đơn không có quyền chia thừa kế và do đó bị đơn không phải hoàn trả lại tài sản.

=> Vậy trong những vụ án khác, nếu lý do bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện không phải là do thời hiệu khởi kiện đã hết thì có thể áp dụng án lệ số 05/2016/AL để điều chỉnh hay không? 

=> Có thể thấy trong phần khái quát nội dung án lệ, yếu tố chính buộc Tòa án phải xem xét công sức đóng góp khi chia thừa kế xuất phát từ việc đương sự “yêu cầu không chia thừa kế đối với di sản thừa kế lớn hơn yêu cầu xem xét về công sức”. Như vậy, nội dung này không đề cập lý do của việc đương sự không đồng ý chia thừa kế. Nói
cách khác, cho dù lý do đương sự không đồng ý không phải là do hết thời hiệu chia  thừa kế như trong án lệ, chẳng hạn như là do đương sự cho rằng nhà đất là tài sản thuộc quyền sở hữu của họ, thì vẫn thuộc trường hợp có thể áp dụng án lệ số 05/2016/AL. Mặt khác, án lệ số 05/2016/AL đề cập việc phản đối với bị đơn đối với yêu cầu chia thừa kế được coi là một yêu cầu của đương sự để xem xét phạm vi xét xử của Tòa án, việc áp dụng án lệ cho các tình huống tương tự với yêu cầu chia thừa kế trong việc phải giao trả nhà đất, chẳng hạn như chia tài sản chung, đòi lại nhà đất đứng tên hộ, cho ở nhờ… để xem việc phản đối yêu cầu khởi kiện là một dạng yêu cầu trong xác định phạm vi xét xử của Tòa án là một phương án khả thi và thuyết phục. 

* Tính thuyết phục của án lệ:

Trong các tranh chấp về chia di sản thừa kế, chia tài sản chung hoặc đòi lại tài sản là nhà đất, việc bị đơn không đưa ra yêu cầu xác định công sức khi không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không đồng nghĩa với việc bị đơn khước từ quyền lợi đối với khoản lợi ích mình xứng đáng được hưởng theo quy định của pháp luật.

Nguyên nhân chính dẫn đến việc bị đơn không có yêu cầu xác định công sức là vì bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện, nghĩa là bị đơn không chấp nhận việc chia thừa kế, chia tài sản chung hay đòi lại nhà đất của nguyên đơn. Khi bị đơn không phải thực hiện nghĩa vụ theo yêu cầu của nguyên đơn thì việc xác định công sức đóng
góp là không cần thiết. Bên cạnh đó, dưới góc độ tham gia tố tụng, việc bị đơn yêu cầu Tòa án tính công sức đóng góp trước khi Tòa án ra quyết định về việc có chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn hay không có thể xem là trường hợp “mâu thuẫn với chính mình”, vì thể hiện bị đơn không chắc chắn với lập luận để bảo vệ cho quan điểm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của mình.
Tóm lại, có thể thấy khi bị đơn phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về chia thừa kế, chia tài sản chung hay đòi lại tài sản là nhà đất, chúng ta chưa xác định được cụ thể mong muốn của bị đơn trong việc có muốn tính công sức tôn tạo hay không. Theo án lệ số 02/2016/AL, việc xác định công sức đóng góp là việc Tòa án phải
thực hiện khi giải quyết tranh chấp về đòi lại tài sản do đứng tên hộ. Áp dụng tinh thần của án lệ số 02/2016/AL thì việc Tòa án xác định công sức đóng góp trong các vụ án về chia thừa kế, chia tài sản hay đòi lại tài sản là nhà đất được coi là hệ quả tất yếu của việc chấp nhận yêu cầu khởi kiện. Từ đó, việc án lệ số 05/2016/AL theo hướng suy đoán bị đơn phản đối yêu cầu khởi kiện chia thừa kế tài sản là nhà đất đồng nghĩa với việc bị đơn vẫn mong muốn
được tính công sức tôn tạo, phát triển tài sản là phương án thuyết phục, bảo vệ tốt hơn cho quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn, và “giải quyết triệt để nội dung vụ án”. 

* Tuy nhiên, nếu bị đơn thể hiện quan điểm trong việc không yêu cầu Tòa án xác định công sức đóng góp thì Tòa án có áp dụng án lệ số 05/2016/AL để vẫn tính công sức cho bị đơn hay không?

Có thể bao gồm hai trường hợp: (i) bị đơn xác nhận không yêu cầu Tòa án giải quyết vì không đồng ý với yêu cầu khởi kiện và cho rằng bị đơn không phải hoàn trả tài sản; (ii) bị đơn yêu cầu Tòa án không xác định công sức cho dù yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận.
Đối với trường hợp đầu tiên, như đã phân tích ở trên, việc bị đơn thể hiện ý chí không yêu cầu Tòa án xác định công sức đóng góp xuất phát từ việc bị đơn phản đối yêu cầu khởi kiện, không phải xuất phát từ việc bị đơn từ bỏ quyền lợi của mình đối với khoản công sức đóng góp. Do đó, Tòa án trong trường hợp này cần áp dụng án lệ
số 05/2016/AL để xác định công sức của bị đơn trong việc tôn tạo, phát triển tài sản như đã phân tích ở trên.
Ngược lại, đối với trường hợp thứ hai, nếu bị đơn đã bày tỏ ý chí cụ thể trong việc từ bỏ quyền lợi đối với công sức đóng góp thì Tòa án cần tôn trọng quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự để không xem xét vấn đề này. Trường hợp này trong thực tiễn xét xử cũng đã được Tòa án nhân dân tối cao giải quyết tại Quyết định giám đốc thẩm số 05/2019/DS-GĐT ngày 18/3/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Trong vụ án này, Viện kiểm sát nhân dân tối cao có kháng nghị giám đốc thẩm đối với bản án phúc thẩm vì cho rằng Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét công sức tôn tạo của bị đơn khi buộc bị đơn trả lại nhà đất cho nguyên đơn là không đúng. Hội đồng xét xử giám đốc thẩm đã nhận định rằng kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tối cao về nội dung này là không cần thiết, vì bị đơn trong biên bản hòa giải xác định trong trường hợp bị đơn phải trả lại nhà và đất cho nguyên đơn thì bị đơn không có yêu cầu trả tiền công sức quản lý, giữ gìn tài sản. Đây là quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự được quy định tại Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 (nay là Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015). Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét công sức của bị đơn là có căn cứ. 

Tóm lại, án lệ số 05/2016/AL cần được áp dụng theo hướng Tòa án chỉ không xác định công sức của đương sự trong việc bảo quản, gìn gữ, tôn tạo tài sản khi chấp nhận yêu cầu chia thừa kế trong trường hợp đương sự thể hiện rõ quan điểm không yêu cầu Tòa án xác định công sức cho dù yêu cầu chia thừa kế được chấp nhận.

* Khi áp dụng án lệ số 05/2016/AL trong giải quyết tranh chấp chia thừa kế, Tòa án không những phải xem xét công sức và còn phải xem xét về chi phí bảo quản di sản thừa kế, cho dù đương sự không có yêu cầu cụ thể mà chỉ phản đối yêu cầu khởi kiện

Theo quy định tại Điều 618 và Điều 658 Bộ luật Dân sự năm 2015, người quản lý di sản thừa kế được thanh toán chi phí cho việc bảo quản tài sản. Về mặt cơ bản, chi phí cho việc bảo quản tài sản được xác định là số tiền thực tế người quản lý di sản đã bỏ ra để thực hiện công việc bảo quản tài sản, và cần phải được chứng minh thông qua các tài liệu, chứng cứ xác thực. Ngược lại, công sức bảo quản tài sản được hiểu là khoản tiền trả cho công lao, sức lực của người quản lý di sản trong việc bảo quản di sản thừa kế, và khó có thể chứng minh bằng các tài liệu, chứng cứ xác thực. Phần Khái quát nội dung của án lệ chỉ đề cập trách nhiệm của Tòa án trong việc xem xét “công sức đóng góp”, nhưng tại phần Nội dung án lệ có đề cập việc đã “chi tiền sửa nhà”. Khoản tiền chị Phượng chi ra để sửa nhà phải được xác định là chi phí bảo quản tài sản, chứ không thể xác định là công sức bỏ ra để bảo quản tài sản. Tuy nhiên, dưới góc độ quyền lợi của chị Phượng thì chi phí bảo quản di sản hay công sức gìn giữ, tôn tạo tài sản đều là lợi ích mà chị Phượng cần được Tòa án giải quyết khi phải hoàn trả tài sản.

* Khi Tòa án giải quyết hậu quả của hợp đồng vô hiệu, mà trong đó có tuyên về việc hoàn trả lại tài sản là nhà đất mà nhà đất đã tăng giá trị do có công sức tôn tạo, gìn giữ của bên đang trực tiếp quản lý, thì có thể áp dụng án lệ số 05/2016/AL hay không? 

Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu. Điều này cho thấy theo án lệ số 02/2016/AL, việc xác định công sức gìn giữ, tôn tạo làm gia tăng giá trị tài sản hoàn trả cũng được áp dụng
cho trường hợp giải quyết hậu quả hợp đồng vô hiệu. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 4 Điều 131 Bộ luật Dân sự năm 2015, khi giao dịch dân sự vô hiệu thì bên có lỗi gây thiệt hại phải bồi thường. Trong trường hợp này, công sức bỏ ra của bên phải hoàn trả tài sản trong việc làm gia tăng giá trị tài sản cần phải được xác định là thiệt hại đối với bên phải hoàn trả tài sản. Khi đó, việc xác định trách nhiệm bồi thường phụ thuộc vào việc ai là người có lỗi trong việc giao dịch dân sự vô hiệu. Như vậy, án lệ số 05/2016/AL không nên được áp dụng đối với việc
giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu.

Chẳng hạn, trong một tranh chấp về hợp đồng mua bán nhà và chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nguyên đơn chỉ yêu cầu tuyên bố hợp đồng vô hiệu, không yêu cầu bị đơn thanh toán tiền mua nhà đất, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng án lệ số 05/2016/AL để cho rằng “yêu cầu về tuyên bố hợp đồng nhà đất vô hiệu do giả tạo, lấy lại nhà là lớn hơn yêu cầu về đòi tiền chuyển nhượng nhà đất nên Hội đồng xét xử phải xem xét giải quyết mặc dù nguyên đơn không có yêu cầu cụ thể đối với số tiền chuyển nhượng nhà đất”. Tòa án cấp phúc thẩm khi xét xử lại nhận định đây là tranh chấp về hợp đồng mua bán nhà đất và giải quyết hậu của của hợp đồng vô hiệu nên không có tình tiết, sự kiện giống với án lệ số 05/2016/AL và việc xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm là vượt quá phạm vi khởi kiện của đương sự. 

* Hệ quả pháp lý phát sinh khi Tòa án xác định công sức:

– Không phải là yêu cầu phản tố, yêu cầu độc lập: Theo án lệ số 05/2016/AL như đã phân tích ở trên, việc Tòa án xác định công sức gìn giữ, tôn tạo làm tăng giá trị tài sản của đương sự xuất phát từ việc đương sự không đồng ý với yêu cầu khởi kiện. Trong khi đó, việc đương sự không đồng ý với yêu cầu khởi kiện theo Điều 199 BLTTDS năm 2015 được coi là ý kiến của đương sự đối với yêu cầu khởi kiện, không phải là yêu cầu phản tố và yêu cầu độc lập quy định tại Điều 200, Điều 201 BLTTDS năm 2015. Nói cách khác, nếu áp dụng theo án lệ số 05/2016/AL, việc Tòa án xác định công sức là hệ quả phát sinh từ yêu cầu khởi kiện chia thừa kế, chia tài sản chung hoặc đòi lại tài sản của nguyên đơn, không phải là một vấn đề riêng như yêu cầu phản tố và yêu cầu độc lập. Điều này đồng nghĩa với việc đương sự không cần phải thực hiện các thủ tục của yêu cầu phản tố và yêu cầu độc lập theo Điều 202 BLTTDS năm 2015, trong đó quan trọng nhất là việc đóng tạm ứng án phí, và sau đó là án phí theo quyết định của Tòa án. 

– Không có quyền khởi kiện riêng: Như đã phân tích ở trên, Tòa án sẽ không xác định công sức gìn giữ, tôn tạo làm tăng giá trị tài sản nếu đương sự có yêu cầu Tòa án không xác định, cho dù yêu cầu khởi kiện chia thừa kế, chia tài sản chung hoặc đòi lại tài sản được Tòa án chấp nhận. Vấn đề đặt ra là: đương sự sau đó có được khởi kiện một vụ án khác để yêu cầu các khoản công sức này hay không? Trong Quyết định giám đốc thẩm số 05/2019/DS-GĐT được phân tích, Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cho rằng Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm không xem xét công sức của đương sự là có căn cứ, đồng thời cho rằng đương sự “có quyền khởi kiện vợ chồng bà L thanh toán tiền công sức nêu trên bằng một vụ án khác nếu có yêu cầu”. Như vậy, theo Hội đồng thẩm phán, đương sự có thể yêu cầu giải quyết về công sức tôn tạo tài sản bằng một vụ án riêng. Đối chiếu với nội dung của án lệ số 05/2016/AL ở trên, có thể thấy nhận định này của Hội đồng thẩm phán là chưa thuyết phục. Bởi lẽ, nếu đương sự có thể khởi kiện yêu cầu xác định công sức ở một vụ án riêng, phải thực hiện các thủ tục do pháp luật quy định, bao gồm cả việc đóng tạm ứng án phí. Điều này đồng nghĩa với việc yêu cầu này độc lập và có thể tách biệt ra với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – đặc điểm hình thành một yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập của đương sự. Trong khi đó, nếu áp dụng theo án lệ số 05/2016/AL, thì việc xem xét công sức gắn liền với yêu cầu khởi kiện chia thừa kế, chia tài sản chung, đòi lại tài sản, là hệ quả phát sinh từ việc chấp nhận yêu cầu khởi kiện mà Tòa án đương nhiên phải xem xét (trừ khi đương sự thể hiện ý chí từ bỏ quyền lợi). Do đó, để việc áp dụng án lệ số 05/2016/AL được thống nhất và phù hợp với các quy định của BLTTDS năm 2015, cần xác định rõ khi đương sự đã từ bỏ quyền lợi của mình trong việc Tòa án xem xét công sức gìn giữ, tôn tạo làm tăng giá trị tài sản, thì đương sự không thể khởi kiện yêu cầu này ở một vụ án khác. 

Nguồn bài viết tham khảo: 

1. Nguyễn Thanh Huyền, ” Nguyên tắc quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự- Vướng mắc và kiến nghị”,
Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử, 2022; 

2. Phạm Hoài Ngân, “Khi nào Tòa án phải tính công sức trong vụ án dân sự?”, Tạp chí Tòa án nhân dân điện tử, 2019; 

3. Lưu Tiến Dũng, Án lệ Việt Nam – Phân tích và luận giải, Tập 1, Nxb. Tư Pháp, 2023; 

4. Huỳnh Quang Thuận – Bình luận án lệ số 05/2016/AL – Xác định phạm vi yêu cầu của đương sự. 

Bài viết cùng chủ đề: