Có thủ tục phúc thẩm đối với Quyết định tuyên bố doanh nghiệp phá sản hay không?

Luật sư cho em hỏi: Có thủ tục phúc thẩm hoặc thủ tục nào xét lại đối với Quyết định tuyên bố doanh nghiệp phá sản hay không ạ?

TRẢ LỜI:

Cơ sở pháp lý:

  • Luật Phá sản 2014.

Căn cứ theo quy định tại khoản 2 điều 4 Luật Phá sản 2014 như sau:

Điều 4. Giải thích từ ngữ

  1. Phá sảnlà tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản.”

Như vậy khi một Doanh nghiệp mất khả năng thanh toán các nghĩa vụ về tài sản (bao gồm khoản nợ khách hàng, nợ lương người lao động, tiền thanh toán các hợp đồng giao dịch,..) và bị Tòa án xem xét, kết luận có đầy đủ dấu hiệu để tuyên bố phá sản.

Căn cứ theo quy định tại điều 111 Luật Phá sản 2014 như sau:

Điều 111. Đề nghị xem xét lại, kháng nghị quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản

  1. Những người được thông báo quy định tại khoản 1 Điều 109 của Luật này có quyền đề nghị xem xét lại, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản.”

Do đó, sau khi Tòa án ra quyết định tuyên bố một doanh nghiệp bị coi là phá sản thì Tòa sẽ gửi quyết định kèm theo trích lục tuyên bố phá sản trong trường hợp quyết định tuyên bố doanh nghiệp phá sản có nội dung cấm cá nhân đảm nhiệm chức vụ, thành lập, quản lý doanh nghiệp, hợp tác xã cho Sở Tư pháp.

Những người được gửi nội dung trên căn cứ theo quy định tại khoản 1 điều 43 Luật Phá sản 2014 bao gồm:

Điều 43. Thông báo quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản

  1. Quyết định mở thủ tục phá sản của Tòa án nhân dân phải được gửi cho người nộp đơn, doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán, chủ nợ, Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, cơ quan thi hành án dân sự, cơ quan thuế, cơ quan đăng ký kinh doanh nơi doanh nghiệp, hợp tác xã có trụ sở chính và đăng trên Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, Cổng thông tin điện tử của Tòa án nhân dân và 02 số báo địa phương liên tiếp nơi doanh nghiệp hợp tác xã mất khả năng thanh toán có trụ sở chính.”

Đúng vậy, khi những người này được Tòa án thông báo về quyết định mở hay không mở thủ tục phá sản cũng chính là những chủ thể được nhận thông báo về việc ra quyết định phá sản doanh nghiệp.

Cụ thể những người này theo quy định tại khoản 1 điều 111 sẽ có quyền đề nghị xem xét lại nghị quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản của Tòa án đã trực tiếp giải quyết vụ việc trước đó.

Bên cạnh người có quyền yêu cầu xem xét lại quyết định trên thì Viện Kiểm sát cùng cấp với Tòa án ra quyết định tuyên bố doanh nghiệp phá sản cũng có quyền kháng nghị quyết định của Tòa án.

Xét về mặt thủ tục đối với Đơn đề nghị, kháng nghị của người có quyền xem xét lại Quyết định tuyên bố doanh nghiệp phá sản được quy định tại điều 112 Luật Phá sản 2014 như sau:

Điều 112. Giải quyết đơn đề nghị, kháng nghị quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản

  1. Ngay sau khi nhận được hồ sơ về phá sản kèm theo đơn đề nghị, kháng nghị, Tòa án nhân dân cấp trên trực tiếp chỉ định một tổ gồm 03 Thẩm phán xem xét, giải quyết đơn đề nghị, kháng nghị quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản và gửi hồ sơ vụ việc phá sản cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp.”

Và hậu quả pháp lý của việc giải quyết đơn đề nghị, kháng nghị trên thì căn cứ theo quy định tại khoản 3 điều 112 Luật Phá sản như sau:

“3. Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ vụ việc phá sản kèm theo đơn đề nghị, kháng nghị, Tổ Thẩm phán phải tổ chức phiên họp và ra một trong các quyết định sau:

a) Không chấp nhận đơn đề nghị, kháng nghị và giữ nguyên quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản;

b) Sửa quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản;

c) Hủy quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản và giao hồ sơ cho Tòa án nhân dân cấp dưới có thẩm quyền giải quyết lại.”

Tóm lại, với thủ tục tuyên bố doanh nghiệp Phá sản thì sẽ không áp dụng quy trình xét xử sơ thẩm hay phúc thẩm mà chỉ có thủ tục kháng nghị, hoặc yêu cầu đề nghị xem xét lại của cá nhân, cơ quan có thẩm quyền khi thấy quyết định tuyên bố của Tòa án là không có căn cứ pháp luật.