Bắt bạc có được tịch thu tiền trong người con bạc

Trên thực tế, có nhiều người đến văn phòng đề nghị được luật sư tư vấn về việc bị công an bắt bạc và bị tịch thu cả số tiền để trong người, không dùng đánh bạc. Để trả lời cho những thắc mắc này, Luật sư Công ty Luật Vilaco xin đưa ra lời tư vấn như sau.

Bắt bạc có được tịch thu tiền trong người con bạc?

1.Thế nào là đánh bạc

Theo quy định tại Nghị quyết 01/2010/NQ-HĐTP hướng dẫn điều 248, 249 Bộ luật hình sự có giải thích “Đánh bạc trái phép” là hành vi đánh bạc được thực hiện dưới bất kỳ hình thức nào với mục đích được thua bằng tiền hay hiện vật mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép nhưng thực hiện không đúng với quy định trong giấy phép được cấp.  Như vậy các hình thức như: Chọi gà, cá độ, xóc đĩa, chơi tú lơ khơ, tổ tôm…dưới hình thức ăn tiền đều được coi là đánh bạc.

Theo quy định tại điều 321 Bộ luật hình sự 2015, quy định “Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Ngoài ra còn có các tình tiết tăng nặng được quy định tại khoản 2, 3 điều này.

2.Tiền trên người con bạc và tiền trên chiếu bạc

Việc công an thu tiền trên chiếu bạc nhưng thu cả tiền trong túi quần, cốp xe của con bạc là đúng hay sai. Câu hỏi này, Luật sư xin được tư vấn như sau:

Tại điều 1 Nghị quyết 01/2010/NQ-HĐTP có hướng dẫn tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc bao gồm:

  1. a) Tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc thu giữ được trực tiếp tại chiếu bạc;
  2. b) Tiền hoặc hiện vật thu giữ được trong người các con bạc mà có căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng đánh bạc;
  3. c) Tiền hoặc hiện vật thu giữ ở những nơi khác mà có đủ căn cứ xác định đã được hoặc sẽ được dùng đánh bạc.

Như vậy, số tiền được tính để làm căn cứ xác định có hay không có tội phạm là tổng số tiền mà cơ quan công an thu được tại chiếu bạc, thu được trong người con bạc hoặc ở một nơi khác nhưng trong quá trình điều tra đã xác minh được số tiền này sẽ được dùng để đánh bạc. Trường hợp mà tiền thu được trong người con bạc, nhưng không sử dụng vào mục đích đánh bạc thì sẽ không tính là tiền dùng để đánh bạc. Vì vậy, nếu bị bắt bạc và tịch thu tiền trong người, bạn phải chứng minh số tiền bạn mang trong người không dùng vào mục đích đánh bạc.Tuy nhiên ngay khi bắt bạc, Cơ quan điều tra có quyền tạm giữ số tiền đó để xác minh số tiền đó có thể sẽ dùng để đánh bạc hay không. Tuy nhiên việc xác định số tiền trong người con bạc “sẽ” dùng để đánh bạc hay không là là cả một vấn đề quan trọng cần xác minh, cơ quan điều tra sẽ phải thận trọng tránh tình trạng xác định nhầm.

3.Tại chiếu bạc thu cả một cụm tiền, vậy xác định số tiền của từng người để truy cứu thế nào

Cũng theo nghị quyết trên “Trường hợp nhiều người cùng tham gia đánh bạc với nhau thì việc xác định tiền, giá trị hiện vật dùng đánh bạc đối với từng người đánh bạc là tổng số tiền, giá trị hiện vật của những người cùng đánh bạc được hướng dẫn và phân tích ở trên.

Ví dụ: 3 ông A, B, C cùng chơi xóc đĩa ăn tiền tại một nhà nghỉ. Khi công an ập tới bắt quả tang thì thu giữ được 20 triệu đồng trên chiếu bạc, trong lòng mỗi người có 10 triệu, Ông A có 10 triệu trong túi quần. Số tiền được coi là căn cứ truy cứu trách nhiệm đối với từng người sẽ là: 50 triệu đồng trên chiếu, 10 triệu đồng trong túi ông A (nếu chứng minh được tiền này sẽ dùng để chơi bạc) tổng là 60 triệu đồng, chứ không chia hoặc ngồi tính mỗi đối tượng có bao nhiêu trong số 60 triệu đồng thu giữ. Như vậy hành vi đánh bạc của ba đối tượng này đã thỏa mãn cấu thành tội phạm theo khoản 2 điều 321 Bộ luật hình sự 2015 các đối tượng này sẽ phải đối mặt với khung hình phạt từ 3 đến 7 năm tù.

Trên đây là lời tư vấn của Công ty Luật Vilaco. Nếu bạn có thắc mắc nào hãy gọi điện trực tiếp theo hotline để được luật sư tư vấn trực tiếp, miễn phí.

Bài viết cùng chủ đề: