Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP do Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành ngày 30/09/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/11/2025, hướng dẫn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 và Điều 52 của Bộ luật Hình sự trong quá trình xét xử. Cụ thể như sau:
1. Hướng dẫn áp dụng các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Điều 4 Nghị quyết 04/2025/NQ-HĐTP có quy định:
(1) “Phạm tội có tổ chức” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ và phân công, sắp đặt vai trò của những người cùng thực hiện tội phạm.
Trường hợp xác định là phạm tội có tổ chức thì phải áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự này đối với tất cả những người cùng thực hiện tội phạm (người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức).
Khi áp dụng tình tiết tăng nặng này thì mức độ tăng nặng trách nhiệm hình sự phụ thuộc vào quy mô tổ chức, vai trò của từng người trong việc tham gia hành vi phạm tội.
(2) “Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự là trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội từ 05 lần trở lên (không phân biệt đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay chưa bị truy cứu trách nhiệm hình sự, mà chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc chưa được xóa án tích) và người phạm tội lấy khoản lợi bất chính thu được từ việc phạm tội làm nguồn thu nhập.
Ví dụ: Đặng Hồng H không nghề nghiệp, lười lao động, thường xuyên ăn chơi, cờ bạc dẫn đến nợ nần. Để có tiền tiêu xài và trả nợ từ tháng 10/2023 đến tháng 09/2024, H thực hiện 10 vụ trộm cắp tài sản (mỗi vụ từ 10.000.000 đồng trở lên) với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt được là 500.000.000 đồng. Trường hợp này, Đặng Hồng H bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
(3) “Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự là việc người có chức vụ, quyền hạn dựa vào chức vụ, quyền hạn được giao để cố ý làm trái, không làm hoặc làm không đúng quy định của pháp luật.
Ví dụ: Nguyễn Văn A là Điều tra viên của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ, lợi dụng vị trí công tác sử dụng con dấu của cơ quan để làm giả giấy xác nhận cho Nguyễn Văn B (bị can trong vụ án khác không do A giải quyết) là người có công tố giác, phát hiện tội phạm mới không đúng sự thật. Trường hợp này, Nguyễn Văn A bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm c khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
(4) “Phạm tội có tính chất côn đồ” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự là trường hợp người phạm tội có thái độ coi thường pháp luật, thường xuyên gây rối an ninh trật tự, sẵn sàng dùng vũ lực, có hành vi hung hãn coi thường tính mạng, sức khỏe của người khác một cách vô cớ hoặc do bộc phát hoặc vì lý do nhỏ nhặt sẵn sàng dùng vũ lực hoặc thường xuyên thực hiện hành vi uy hiếp người khác phải khuất phục mình.
Ví dụ: Nguyễn Văn A điều khiển xe mô tô và nẹt pô trên đường. Lúc này Nguyễn Văn B cũng đang điều khiển xe mô tô khác khó chịu với tiếng nẹt pô nên vượt lên chặn đầu xe, dùng dao đâm vào ngực phải và hông trái của A gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 60%. Trường hợp này, Nguyễn Văn B bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm d khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
(5) “Phạm tội vì động cơ đê hèn” theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự là trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội để trả thù hoặc phạm tội để trốn tránh trách nhiệm của bản thân; phạm tội đối với người mà mình mang ơn hoặc những hành vi phạm tội khác thể hiện sự bội bạc, phản trắc.
Ví dụ: Giết người nhằm mục đích lấy vợ hoặc chồng nạn nhân; giết tình nhân đã có thai với mình để trốn tránh trách nhiệm; giết người đã cho vay, giúp đỡ mình khi gặp khó khăn, hoạn nạn nhằm trốn nợ;…
…
(15) “Có hành động xảo quyệt hoặc hung hãn nhằm trốn tránh hoặc che giấu tội phạm” quy định tại điểm p khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự là hành động thâm độc, khó lường trước được hoặc hành động dữ tợn, phá phách, đánh, giết người nhằm trốn tránh, tẩu thoát hoặc che giấu tội phạm.
Ví dụ: Sau khi gây ra tai nạn giao thông, Nguyễn Văn A bỏ mặc nạn nhân tại hiện trường rồi lái xe đến gara sửa chữa nhằm xóa dấu vết của vụ tai nạn trên xe. Sau đó, A quay trở lại hiện trường thu dọn tất cả mảnh vỡ của ô tô, để che giấu hành vi phạm tội của mình, tạo dựng hiện trường giả để đánh lạc hướng điều tra. Trường hợp này, Nguyễn Văn A bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm p khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
2. Hướng dẫn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
(1). “Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) “Ngăn chặn tác hại của tội phạm” là khi tội phạm đã được thực hiện và người phạm tội tự mình hoặc có sự tác động khách quan nên đã bằng những khả năng có thể để ngăn chặn không cho tác hại của tội phạm xảy ra;
b) “Làm giảm bớt tác hại của tội phạm” là khi tội phạm đã được thực hiện, tác hại của tội phạm đang xảy ra và người phạm tội tự mình hoặc có sự tác động khách quan nên đã bằng những khả năng có thể để không cho tác hại của tội phạm tiếp tục xảy ra hoặc xảy ra lớn hơn.
Khi áp dụng tình tiết giảm nhẹ này thì mức độ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phụ thuộc vào thái độ của người phạm tội (tự mình hay có sự tác động của người khác, yếu tố khách quan khác) và thực tế tác hại của tội phạm đã được ngăn chặn, được làm giảm bớt.
Ví dụ: Ngay sau khi gây ra tai nạn giao thông, Nguyễn Văn A đã đưa nạn nhân đi cấp cứu kịp thời nên tỷ lệ tổn thương cơ thể của nạn nhân được giảm bớt. Trường hợp này, Nguyễn Văn A được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm a khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
(2). “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Người phạm tội tự mình hoặc đồng ý để cha, mẹ, người khác (vợ, chồng, con, anh, chị, em, bạn bè…) sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của người phạm tội gây ra;
b) Người phạm tội không có trách nhiệm sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra (như: việc bồi thường thiệt hại thuộc trách nhiệm của chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ hoặc thuộc trách nhiệm dân sự của các bị cáo khác trong cùng vụ án) nhưng đã tự nguyện dùng tiền, tài sản của mình hoặc đồng ý để cha, mẹ, người khác (vợ, chồng, con, anh, chị, em, bạn bè…) sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của người phạm tội gây ra;
c) Người phạm tội tự nguyện hoặc đồng ý để cha, mẹ, người khác (vợ, chồng, con, anh, chị, em, bạn bè…) dùng tiền, tài sản để sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của người phạm tội gây ra, nhưng bị hại, nguyên đơn dân sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ từ chối nhận, mà số tiền, tài sản đó đã được giao cho cơ quan tiến hành tố tụng, cơ quan thi hành án hoặc cơ quan có thẩm quyền khác quản lý để thực hiện việc sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của người phạm tội gây ra;
d) Có chứng cứ chứng minh người phạm tội tự nguyện hoặc đồng ý để cha, mẹ, người khác (vợ, chồng, con, anh, chị, em, bạn bè…) dùng tiền, tài sản để sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của người phạm tội gây ra, nhưng bị hại, nguyên đơn dân sự hoặc người đại diện hợp pháp của bị hại, nguyên đơn dân sự từ chối nhận và họ đã đem số tiền, tài sản đó cất giữ, gửi giữ để sẵn sàng thực hiện việc sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả khi có yêu cầu.
Khi áp dụng tình tiết giảm nhẹ này thì mức độ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phụ thuộc vào sự chủ động, tích cực của người phạm tội trong việc sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả và hiệu quả, mức độ của việc sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả.
(3). “Phạm tội trong trường hợp vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là trường hợp người phạm tội để bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, cơ quan, tổ chức mà thực hiện hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết, không phù hợp với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại.
Hành vi chống trả rõ ràng quá mức cần thiết là hành vi chống trả không tương xứng, có sự chênh lệch lớn so với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi xâm hại. Để xác định hành vi chống trả có “rõ ràng quá mức cần thiết” hay không phải xem xét, đánh giá khách quan, toàn diện, đầy đủ những tình tiết, sự kiện liên quan đến hành vi xâm hại và hành vi chống trả như: khách thể cần bảo vệ; mức độ thiệt hại mà hành vi xâm hại có thể gây ra; vũ khí, phương tiện, phương pháp thực hiện; nhân thân người xâm hại; tương quan lực lượng, cường độ, mức độ của hành vi xâm hại và hành vi phòng vệ; bối cảnh, hoàn cảnh, địa điểm xảy ra sự việc…
Ví dụ: Phạm Văn T dùng dao uy hiếp và đấm vào mặt Nguyễn Văn A. Để bảo vệ mình, A đã giằng co với T, cướp dao và ném xuống sông. Khi T bỏ chạy, A vẫn đuổi theo và lấy đá đập nhiều lần vào người T dẫn đến tổn thương cơ thể tỷ lệ 25%. Hành vi gây thương tích của A đã vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng. Trường hợp này, Nguyễn Văn A được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm c khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
(4). “Phạm tội trong trường hợp vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết” theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là trường hợp người phạm tội vì muốn tránh gây thiệt hại cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, cơ quan, tổ chức mà không còn cách nào khác là phải gây một thiệt hại nhỏ hơn thiệt hại cần ngăn ngừa nhưng thực tế thiệt hại gây ra rõ ràng vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết (thiệt hại thực tế bằng hoặc lớn hơn thiệt hại cần ngăn ngừa).
Ví dụ: Khi xảy ra cháy ở cửa hàng, mặc dù đám cháy đã được khống chế nhưng vẫn để lại lượng khói lớn, Nguyễn Văn A là nhân viên cho rằng đám cháy sẽ lây lan sang nhà để xe nên đã phá cửa và tường nhằm mục đích lấy xe máy của mình trị giá 20.000.000 đồng. Hành vi của A đã gây ra thiệt hại thực tế là 100.000.000 đồng, thiệt hại này lớn hơn thiệt hại phải ngăn ngừa nên hành vi của A đã vượt quá yêu cầu của tình thế cấp thiết. Trường hợp này, Nguyễn Văn A được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm d khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
…..
(21). “Người phạm tội là người có công với cách mạng hoặc là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ” theo quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là thuộc một trong các trường hợp sau đây:
a) Người phạm tội là người có công với cách mạng quy định tại khoản 1 Điều 3 Pháp lệnh số 02/2020/UBTVQH14 ngày 09/12/2020 về ưu đãi người có công với cách mạng;
b) Người phạm tội là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ.
Trường hợp người phạm tội là vợ, chồng của liệt sĩ, đã kết hôn với người khác nhưng vẫn thờ cúng liệt sĩ thì cũng được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ này.
Trường hợp người phạm tội là người có công nuôi dưỡng liệt sĩ hoặc có công nuôi dưỡng cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ (kể cả trường hợp những người này đã chết) thì cũng được áp dụng tình tiết người phạm tội là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ quy định tại điểm x khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Trường hợp người phạm tội đồng thời vừa là người có công với cách mạng vừa là cha, mẹ, vợ, chồng, con của liệt sĩ thì được coi là có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Trên đây là một số nội dung chính được đề cập tại Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/09/2025 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao về việc hướng dẫn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự. Mọi thắc mắc cần tư vấn giải đáp, quý khách hàng vui lòng liên hệ hotline để được các Luật sư và chuyên viên pháp lý của Công ty Luật hỗ trợ kịp thời.
- Hợp đồng thuê nhà có bắt buộc phải công chứng?
- Khi nào thì bắt buộc phải có luật sư tham gia bào chữa?
- Khi nào thì công an được phép “tạm đình chỉ” điều tra vụ án?
- Chồng ngoại tình, vợ phải làm gì để bảo vệ quyền lợi khi ly hôn
- Lấy chồng không đăng ký kết hôn, con sinh ra có thể điền tên chồng vào là tên cha không?

















